Kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2017)
GIỚI THIỆU
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG [17/02]

GIAI ĐOẠN I - TRƯỜNG TRUNG HỌC XÂY DỰNG SỐ 6 (02/1976 -  5/2001)
25 năm đào tạo bậc trung cấp chuyên nghiệp

Sau ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam 30 tháng 4 năm 1975, thống nhất đất nước, Bộ Xây dựng chủ trương thành lập các trường Trung học Xây dựng ở phía Nam để đào tạo cán bộ trung học kỹ thuật xây dựng và kinh tế xây dựng cho các tỉnh phía Nam vừa được giải phóng, và lần lượt bốn trường trung học xây dựng ở khu vực phía Nam được thành lập mang tên gọi tiếp theo sau số thứ tự 1, 2, 3, 4  của các trường trung học xây dựng ở khu vực phía Bắc. Khu vực Miền Trung và Tây Nguyên có Trường Trung học Xây dựng số 5 ở Hội An, Quảng Nam-Đà Nẵng; Trường Trung học Xây dựng số 6 ở Tuy Hòa, Phú Khánh; Khu vực Miền Đông Nam bộ có Trường Trung học Xây dựng số 7 ở Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh; Khu vực Miền Tây Nam bộ có Trường Trung học Xây dựng 8 ở Vị Thanh, Hậu Giang.
Bộ máy lãnh đạo, các đơn vị chức năng trong trường và đội ngũ cán bộ, giáo viên các trường được xây dựng hoàn toàn mới. Cán bộ, giáo viên được Bộ Xây dựng phân công, điều động về các trường chủ yếu là cán bộ, giáo viên ở các trường Trung học kỹ thuật, nghiệp vụ ở phía Bắc, cán bộ ở các cơ quan của Bộ quản lý.
Sau ngày thống nhất đất nước, một số tỉnh thành được sát nhập ghép thành một đơn vị hành chính mới; ngay tại thời điểm này, toàn quốc chỉ có 38 tỉnh, thành phố. Hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa được hợp nhất, lấy tên tỉnh là Phú Khánh vào ngày 3/11/1975 theo Nghị quyết số 245-NQ/TW ngày 29/9/1975 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa III.
Trường Trung học Xây dựng số 6 được Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Khánh cấp cho khu đất rộng trên 8 ha ở thị xã Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên hiện nay. Mặt bằng khu đất được giới hạn bởi đường Nguyễn Du ở phía Bắc, đường Độc Lập phía Đông ven biển, phía Nam và phía Tây là bãi cát trắng, dưới chân các đồi cát nhấp nhô là các ruộng lúa, ruộng rau muống của Nhân dân phường 5. Sau khi tái lập tỉnh Phú Yên vào ngày 01/7/1989, thị xã Tuy Hòa đã được quy hoạch lại, tỉnh Phú Yên đã thu hồi một phần đất của trường để xây dựng trụ sở Ủy ban Nhân dân tỉnh và trụ sở Công an tỉnh ở phía Đông; xây dựng mới các con đường Lê Duẩn ở phía Đông, đường Trường Chinh ở phía Nam và đường Lý Thường Kiệt ở phía Tây.
Cơ sở vật chất ban đầu tạm thời được chia làm hai khu. Khu I gồm có một căn nhà một tầng cũ là nhà số 47 đường Độc Lập được sử dụng làm nhà làm việc, một căn nhà hai tầng cũng ở phía đường Độc Lập sau này cũng được sửa chữa để làm nhà làm việc và 6 nhà tạm không cửa, không mái được sửa chữa làm nhà ở cho cán bộ, giáo viên. Khu II gồm 3 căn nhà cấp 4 lợp fibroximang được cải tạo làm lớp học; 5 ngôi nhà lợp tôn cũ nát vốn là khu gia binh của chính quyền cũ, một căn nhà mặt đường Nguyễn Du được sở thương nghiệp dùng làm kho, sau này được cải tạo thành nhà làm việc, hiện nay là nâng cấp thành nhà AI, bốn căn nhà ở trong được cải tạo làm nhà ở học sinh. Điện một tuần chỉ được cung cấp có 3 tối, nước phải tự đào giếng để có nước sinh hoạt hàng ngày.
Đội ngũ cán bộ, giáo viên lúc ban đầu đến xây dựng trường có 30 người từ miền Nam đi tập kết về và từ miền Bắc điều động vào, họ là cán bộ, giáo viên của Trường Trung học Xây dựng số 1, số 2, số 3, Trường Trung cấp nghiệp vụ kinh tế, Trường Trung cấp Đo đạc bản đồ và các cơ quan trong ngành Xây dựng. Vượt qua mọi trở ngại khó khăn ban đầu, Ban Giám hiệu, Chi bộ nhà trường đã lãnh đạo cán bộ, giáo viên vừa lo tập trung xây dựng cơ sở vật chất thiết yếu nhất phục vụ đào tạo vừa nhanh chóng tổ chức tuyển sinh đào tạo theo nhiệm vụ của Bộ Xây dựng giao.
Trong khoảng thời gian 25 năm hình thành và phát triển của Trường Trung học Xây dựng số 6, nhà trường đã trải qua thời kỳ cực kỳ khó khăn ban đầu của một đơn vị mới thành lập, đồng thời trong giai đoạn này cũng là tình hình khó khăn chung của cả nước vừa ra khỏi cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước kéo dài tới 30 năm, tiếp theo là cuộc chiến tranh bảo vệ chủ quyền biên giới ở phía Nam và phía Bắc; khủng hoảng kinh tế do bị các thế lực thù địch cấm vận, đời sống của Nhân dân vô cùng khó khăn, thiếu thốn. Những năm của thập kỷ 90, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, nhà trường đã nhanh chóng nắm bắt thời cơ để mở rộng quy mô, ngành nghề đào tạo; tổ chức liên kết với các trường, đa dạng hóa các loại hình đào tạo đáp ứng yêu cầu của người học.
GIAI ĐOẠN II -  TRƯỜNG CAO ĐẲNG XÂY DỰNG SỐ 3 (6/2001 -  7/2011)
Khởi đầu của sự nghiệp đào tạo bậc cao đẳng
Đây là thời kỳ đổi mới sâu rộng trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Đất nước bước vào thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng họp tại thủ đô Hà Nội từ ngày 19 đến ngày 24 tháng 4 năm 2001 đã thảo luận và thông qua các văn kiện quan trọng, trong đó có Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 với mục tiêu tổng quát là: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”. Điều này đòi hỏi giáo dục, đào tạo phải đổi mới để đáp ứng yêu cầu phát triển, nâng cao chất lượng đào tạo nói chung đối với nền giáo dục, nói riêng đối với Trường THXD số 6. Từ đó lãnh đạo nhà trường đã chú trọng đến công tác xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên cả về số lượng và chất lượng nhất là giảng viên có trình độ sau đại học. Đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy học để người học có kiến thức thực tế, khi ra trường nhanh chóng bắt kịp với thực tế sản xuất. Đồng thời từ các nguồn thu từ đào tạo và lao động sản xuất, nhà trường đã đầu tư để xây dựng mở rộng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học phục vụ cho nhiệm vụ đào tạo của nhà trường. Chính nhờ hướng đi đúng đắn đó, với sự nỗ lực vượt bậc của tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên mà Nhà trường đã trưởng thành, đánh dấu một mốc phát triển mới. Ngày 23 tháng 5 năm 2001 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký Quyết định số 3069/QĐ-BGD&ĐT-TCCB Về việc thành lập Trường Cao đẳng Xây dựng số 3 trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Xây dựng số 6.
    Quy mô tuyển sinh, ngành nghề đào tạo giai đoạn này như sau:
TT
Ngành, nghề đào tạo
Quy mô tuyển sinh
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
Tổng
I
Cao đẳng chính quy
117
207
472
528
463
571
676
1003
781
902
5720
1
Công nghệ Kỹ thuật công trình xây dựng
117
207
353
370
239
335
284
370
310
363
2948
2
Kế toán
 
 
119
97
123
109
106
245
167
167
1133
3
Công nghệ Kỹ thuật tài nguyên nước
 
 
 
61
50
63
62
46
35
64
381
4
Quản lý xây dựng (chuyên ngành Kinh tế xây dựng)
 
 
 
 
51
64
62
78
46
55
356
5
Công nghệ Kỹ thuật giao thông
 
 
 
 
 
 
54
143
119
120
436
6
Công nghệ Kỹ thuật xây dựng
 
 
 
 
 
 
58
49
54
70
231
7
Quản trị kinh doanh
 
 
 
 
 
 
50
72
50
63
235
II
Cao đẳng liên thông chính quy
0
0
0
0
0
0
0
87
215
251
553
1
Công nghệ Kỹ thuật công trình xây dựng
 
 
 
 
 
 
 
54
126
251
431
2
Kế toán
 
 
 
 
 
 
 
33
89
 
122
III
Trung cấp chính quy
379
492
390
445
550
626
1105
1085
1107
695
6874
1
Xây dựng DD&CN
196
243
224
259
376
441
734
725
820
423
4441
2
Kế toán
148
200
125
139
139
147
312
325
265
187
1987
3
Xây dựng cấp thoát nước
35
49
41
47
35
38
59
35
22
38
399
4
Thiết kế kiến trúc
 
 
 
 
 
 
 
 
 
47
47
IV
Trung cấp tại chức
184
172
160
86
136
185
62
0
0
0
985
1
Xây dựng DD&CN
184
172
160
86
98
114
62
 
 
 
876
2
Kế toán
 
 
 
 
38
71
 
 
 
 
109
V
Công nhân kỹ thuật
0
259
274
301
205
156
109
160
68
95
1627
1
Trắc địa
 
24
22
 
 
 
 
 
 
 
46
2
Nề-Hoàn thiện, Kỹ thuật xây dựng
 
41
54
16
 
 
56
10
38
50
265
3
Mộc
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
0
4
Sắt hàn
 
100
63
74
91
108
30
150
 
 
616
5
Ghi thu đồng hồ nước
 
 
 
45
 
 
 
 
 
 
45
6
Điện – Nước
 
51
94
134
82
48
23
 
30
45
507
7
Điện công nghiệp
 
43
41
32
32
 
 
 
 
 
148
VI
Dạy nghề ngắn hạn
0
120
59
54
31
246
184
180
104
159
1137
1
Nề, Mộc, Cốt thép-Hàn, Điện-Nước, Điện công nghiệp, Ghi thu đồng hồ nước, Vận hành xử lý nước, Lắp đặt và sửa chữa đường ống nước
0
120
59
54
31
246
184
180
104
159
1137
 
Tổng cộng
680
1250
1355
1414
1385
1784
2136
2515
2275
2102
16896
 
 
Qui mô tuyển sinh liên kết đào tạo trình độ đại học của nhà trường trong giai đoạn này như sau:
 
TT
Ngành đào tạo
Cơ sở chủ trì liên kết
Quy mô tuyển sinh đào tạo
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
Tổng
1
Xây dựng  DD&CN
Đại học Kiến trúc Hà Nội
68
 
107
38
 
 
 
 
 
 
213
2
Xây dựng  DD&CN
Đại học Kiến trúc TP HCM
 
 
 
 
 
128
139
239
152
89
747
3
Cấp thoát nước và môi trường
Đại học Kiến trúc Hà Nội
41
 
 
41
 
 
 
 
 
 
82
4
Kế toán
Đại học Nha Trang
 
 
102
72
85
82
 
77
142
124
684
 
Tổng cộng:
 
109
0
209
151
85
210
139
316
294
213
1726
 
GIAI ĐOẠN III - TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG (8/2011 đến nay)
Khởi đầu của sự nghiệp đào tạo bậc đại học
           Công tác chuẩn bị để thành lập Trường Đại học Xây dựng Miền Trung hôm nay đã đ­ược tiến hành từ rất sớm. Ngay khi còn là Trường Trung học Xây dựng số 6, Nhà trường đã hợp tác với các Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, Đại học Xây dựng Hà Nội,  để mở các lớp đào tạo đại học tại chức, chuyên tu từ năm 1987, Thông qua các ch­ương trình đào tạo liên kết với các trường đại học, Nhà trường đã tổ chức nghiên cứu để xây dựng các ch­ương trình đào tạo đại học cho các ngành học của Trường, trên cơ sở chương trình khung của Bộ Giáo dục & Đào tạo quy định và theo hướng tiếp cận công nghệ mới, đồng thời tạo điều kiện cho giảng viên của Trường làm quen với công tác giảng dạy đại học. Song song với quá trình chuẩn bị nội dung, ch­ương trình đào tạo bậc đại học, đội ngũ giáo viên cũng đ­ược tăng cường tuyển mới, phân loại và tổ chức bồi dưỡng liên tục. Nhà trường đã tích cực mở các lớp bồi dưỡng sư phạm và các lớp chuyên đề về công nghệ mới tại Trường, cũng như tìm nguồn để cử giáo viên đi học tập bồi d­ưỡng ở nước ngoài. Hàng năm có từ 10 đến 15 giáo viên đi học cao học, 03 đến 05 giáo viên đi làm nghiên cứu sinh  ở trong và ngoài nước, đồng thời đã tổ chức thường xuyên các hội giảng cấp khoa, cấp trường và tham gia tích cực hội giảng cấp tỉnh, cấp bộ. Các kỳ hội giảng đó đã giúp cho giáo viên và Nhà trường nhiều kinh nghiệm để đổi mới ph­ương pháp giảng dạy, nhiều giáo viên đã đạt được giải cao. Đại hội lần thứ XI của Đảng xác định "Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục. Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội". Từ Nhận thức đúng đắn về chủ trương, đường lối của Đảng, Ban Giám hiệu nhà trường đã thấy được nhiệm vụ cấp bách hiện nay của Nhà trường là phải quyết tâm đưa Trường lên Đại học.
         Căn cứ vào khả năng thực tế của Nhà trường và nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học công nghệ, có tư duy khoa học và kỹ năng nghề cao, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất n­ước, đặc biệt là khu vực Miền Trung và Tây nguyên, Nhà trường đã được Bộ Xây dựng đưa vào quy hoạch nâng cấp thành trường đại học giai đoạn 2010 - 2015. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Xây dựng, cho phép Trường Cao đảng Xây dựng số 3 tiến hành xây dựng Đề án nâng cấp Trường lên đại học. Nhà trường đã thành lập Ban chỉ Đạo Xây dựng Đề án do thầy Hiệu trưởng Trần Xuân Thực làm Trưởng ban. Chính thức vào ngày 24 tháng 7 năm 2009, Ban soạn thảo bắt đầu viết Đề án thành lập Trường Đại học Xây dựng MIền Trung trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng  Xây dựng số 3. Đề án được viết theo 02 giai đoạn: tiền khả thi và khả thi.
Những dấu mốc lịch sử mang dấu ấn của sự hình thành Trường Đại học Xây dựng Miền Trung đó là: Ngày 31/12/2010 Thủ tướng Chính phủ ký Chủ trương thành lập Trường Đại học Xây dựng Miền Trung trên cơ sở Trường Cao đẳng Xây dựng số 3 tại Văn bản số 2411/TTg-KGVX và đến ngày 28/7/2011, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1279/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Xây dựng Miền Trung trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Xây dựng số 3. Như vậy kể từ khi viết Đề án đến khi có Quyết định thành lập là tròn 02 năm, khoảng thời gian này không phải là dài, cũng không phải là ngắn so với sự phát triển của Trường, nhưng có điều ghi nhận tâm huyết trong khoảng thời gian này là sự thể hiện quyết tâm cao độ, sự thể hiện niềm tin và lạc quan của tập thể lãnh đạo, cán bộ, viên chức và học sinh- sinh viên của nhà trường một cách mãnh liệt hướng tới tương lai gần phấn đấu có một ngôi trường đại học trên quê hương thân yêu “núi Nhạn, sông Đà”. Đây cũng là niềm mơ ước của  cán bộ và Nhân dân tỉnh Phú Yên.
Quy mô tuyển sinh, ngành nghề đào tạo giai đoạn này như sau:
TT
Ngành, nghề đào tạo
Quy mô tuyển sinh
2011
2012
2013
2014
2015
Tổng
I
Đại học chính quy
0
393
629
651
867
2540
1
Kỹ thuật công trình xây dựng
 
328
481
424
518
1751
2
Kiến trúc
 
65
71
111
20
267
3
Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông
 
 
77
94
137
308
4
Kinh tế xây dựng
 
 
 
22
129
151
5
Quản lý xây dựng
 
 
 
 
30
30
6
Kỹ thuật môi trường
 
 
 
 
33
33
II
Đại học liên thông chính quy
0
0
0
163
207
370
1
Kỹ thuật công trình xây dựng
 
 
 
163
156
319
2
Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông
 
 
 
 
51
51
III
Cao đẳng chính quy
897
759
536
303
178
2673
1
Công nghệ Kỹ thuật công trình xây dựng
328
342
271
121
65
1127
2
Kế toán
150
118
91
48
46
453
3
Công nghệ Kỹ thuật tài nguyên nước
57
0
14
15
9
95
4
Quản lý xây dựng (chuyên ngành Kinh tế xây dựng)
118
103
54
20
5
300
5
Quản lý xây dựng (chuyên ngành Kinh tế xây dựng)
 
 
 
 
 
0
6
Công nghệ Kỹ thuật giao thông
120
113
60
38
8
339
7
Công nghệ Kỹ thuật xây dựng
72
40
15
10
5
142
8
Quản trị kinh doanh
52
43
31
18
19
163
9
Công nghệ Kỹ thuật kiến trúc
 
 
 
8
2
10
10
Công nghệ Kỹ thuật điện-điện tử
 
 
 
9
11
20
11
Công nghệ thông tin
 
 
 
16
8
24
II
Cao đẳng liên thông chính quy
285
245
0
45
46
621
1
Công nghệ Kỹ thuật công trình xây dựng
285
245
 
45
46
621
2
Kế toán
 
 
 
 
 
0
III
Trung cấp chính quy
873
595
105
0
15
1588
1
Xây dựng DD&CN
635
445
105
0
15
1200
2
Kế toán
190
108
 
 
 
298
3
Xây dựng cấp thoát nước
 
 
 
 
 
0
4
Thiết kế kiến trúc
48
42
 
 
 
90
IV
Trung cấp tại chức
39
0
0
0
0
39
1
Xây dựng DD&CN
39
 
 
 
 
39
2
Kế toán
 
 
 
 
 
0
V
Công nhân kỹ thuật
102
0
0
0
0
102
1
Nề -Hoàn thiện, Kỹ thuật xây dựng
102
 
 
 
 
102
VI
Dạy nghề ngắn hạn
215
169
269
301
300
1254
1
Nề, Mộc, Cốt thép-Hàn, Điện-Nước, Điện công nghiệp, Ghi thu đồng hồ nước, Vận hành xử lý nước, Lắp đặt và sửa chữa đường ống nước
215
169
269
301
300
1254
 
Tổng cộng:
2411
2161
1539
1463
1613
9187
 
 Qui mô tuyển sinh liên kết đào tạo trình độ đại học, cao học của nhà trường trong giai đoạn này như sau:
 
TT
Ngành đào tạo
Cơ sở chủ trì liên kết
Quy mô tuyển sinh đào tạo
2011
2012
2013
2014
2015
Tổng
I
Đại học
 
451
178
0
0
0
629
1
Kế toán
Đại học Nha Trang
451
178
 
 
 
629
II
Cao học
 
0
0
0
132
27
159
1
Kỹ thuật xây dựng công trình DD&CN
Đại học Xây dựng
 
 
 
49
 
49
2
Kiến trúc
Đại học Xây dựng
 
 
 
22
 
22
3
Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông
Đại học Xây dựng
 
 
 
34
 
34
4
Quản lý xây dựng
Đại học Xây dựng
 
 
 
27
27
54
5
Tài chính ngân hàng
Đại học Kinh tế TP HCM
 
 
 
 
 
 
6
Quản trị kinh doanh
Đại học Kinh tế TP HCM
 
 
 
 
 
 
 
Tổng cộng:
 
451
178
0
132
27
788
Trong giai đoạn này có sự bứt phá rất mạnh mẽ trong công tác đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và mua sắm tài sản, trang thiết bị nhằm đáp ứng yêu cầu về xây dựng và phát triển của Nhà trường trong thời kỳ lên đại học.
Trong giai đoạn này nhà trường được Bộ Xây dựng quan tâm cấp kinh phí không thường xuyên (bao gồm cả kinh phí đầu tư  XDCB) trên 100 tỷ đồng. Với nguồn kinh phí này được dùng để thực hiện Dự án Đầu tư tăng cường năng lực NCKH; dự án Đầu tư xây dựng các công trình Giảng đường và Nhà hiệu bộ tại cơ sở 2 (Khu B); đầu tư sửa chữa nâng cấp các công trình đã có của Trường như: Sửa chữa nâng cấp Xưởng thực hành nghề, sửa chữa nâng cấp Giảng đường A3, sửa chữa cải tạo ký túc xá B1 thành Khu thí nghiệm…; đầu tư các phòng học chuyên dùng như: phòng học đồ án kiến trúc, phòng học mỹ thuật, phòng học máy tính, phòng LAB học ngoại ngữ với đầy đủ các trang bị thiết bị, dụng cụ đồ dùng học tập đáp ứng được nhu cầu giảng dạy, học tập và NCKH.
Nhà trường đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Khánh trước đây và tỉnh  Phú Yên hiện nay giao quyền sử dụng đất để xây dựng nhà trường gồm:
-  Khu A : Tại số 24, Đường Nguyễn Du, thành phố Tuy Hòa, tỉnh phú Yên với diện tích được cấp là: 4,80ha; Hiện có 43 phòng học đạt tiêu chuẩn, 100% phòng học đảm bảo điều kiện về ánh sáng, đủ bàn ghế theo chổ ngồi, được trang bị máy chiếu. Phòng thí nghiệm, thực hành thực tập tiên tiến, hiên có 03 phòng học điện, 01 phòng bê tông, xi măng, vửa và thép, 01 phòng thí nghiệm cơ học đất, 01 phòng thí nghiệm nước với hơn 150 máy móc, thiết bị hiên đại để phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, 03 phòng thực hành kỹ thuật máy tính với hơn 300 máy tính ngoài ra còn có khu xưởng thực hành thực tập hơn 600 m2.Thư viên của trường từng bước đã được đầu tư có diện tích  600m2 có 02 phòng đọc, có phòng kết nối  Internet để cho sinh viên tra cứu thông tin. Có 01 khu ký túc xá với 35 phòng ở, đáp ứng nhu cấu  học tập và sinh hoạt cho hơn 350 sinh viên.
           - Khu B: Tại đường Hà Huy Tập, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, với diện tích được cấp là: 13,245 ha, đã được UBND tỉnh Phú Yên phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng 1/500 và giao đất xây dựng có diện tích đất xây dựng là 131.245 m2. Đến nay đã hoàn thành dự án đầu tư Hệ thống hạ tầng kỹ thuật, tường rào bao quanh, nhà thường trực, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống điện, hạng mục Khu giảng đường bao gồm 02 khối nhà học 5 tầng và 01 khối giảng đường 2 tầng, với tổng số 40 phòng học và 02 giảng đường 200 chỗ, phục vụ cho nhu cầu học tập của 5.000 sinh viên. Công trình đã được nghiệm thu đưa vào sử dụng đầu năm học 2015-2016.
Cơ cấu tổ chức bộ máy
Hiện nay cơ cấu tổ chức bộ máy của Trường gồm: Ban Giám hiệu; 08 phòng, ban chức năng; 09 khoa và 02 Trung tâm khoa học ứng dụng thực nghiệm, dịch vụ  với 41 cán bộ quản lý.
Ban Giám hiệu
Các phòng chức năng
- Phòng Quản lý đào tạo;
- Phòng Tổ chức Hành chính;
- Phòng Tài chính Kế toán;
- Phòng Công tác học sinh sinh viên;
- Phòng Quản lý Khoa học và Hợp tác quốc tế;
- Phòng Quản trị và Thiết bị;
- Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng;
- Ban quản lý dự án
Các khoa, trung tâm đào tạo
- Khoa Xây dựng;
- Khoa Kiến trúc;
- Khoa Kỹ thuật Hạ tầng Đô thị;
- Khoa Cầu đường;
- Khoa Kinh tế;
- Khoa Khoa học Cơ bản;
- Khoa Lý luận Chính trị;
- Khoa Đào tạo nghề
- Trung tâm Ngoại ngữ và Tin học
Các trung tâm nghiên cứu khoa học, dịch vụ
- Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ và thí nghiệm;
- Trung tâm Tư vấn xây dựng;
Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý
Đến ngày 20/10/2015, tổng số CB,VC của trường là 236 người, trong đó: 161 giảng viên, 75 cán bộ quản lý và phục vụ giảng dạy; Trình độ có 02 PGS, 09 tiến sĩ, 108 thạc sỹ, 94 đại học (hiện nay có 52 người đang học Thạc sĩ, 15 người đang làm NCS).
          Năm 2016 Nhà trường được Bộ Xây dựng xác nhập Trường Trung học Xây dựng Miền Trung tại  544b Nguyễn Lương Bằng, Quận Liên Chiểu, Tp. Đà Nẵng làm cơ sở II của Trường Đại học Xây dựng Miền Trung.
            

 

 
In bài In bài này Gửi phản hồi Gửi phản hồi
Các tin khác:
 
THÔNG BÁO
 
Đọc thêm





WEBLINK
 
Số lượng đang online: 85
Số lượt truy cập: 17,812,310
Copyright by Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Điện thoại: (057).3 821 905. Email:vodaihong@muce.edu.vn